Những quyền lợi của người lao động bị xâm phạm nhiều nhất

24/09/2020

Mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động luôn là mối quan hệ được nhiều người quan tâm. Về mặt lý thuyết, mối quan hệ này là sự trao đổi công bằng giữa sức lao động và chi phí trả cho sức lao động đó. Tuy nhiên trên thực tế, người lao động luôn trong tình trạng yếu thế hơn và có rất nhiều quyền lợi của người lao động bị xâm phạm. Bài viết dưới đây sẽ chỉ rõ những quyền lợi của người lao động hay bị xâm phạm nhất.

Mục lục bài viết [ ẨnHiện ]

Căn cứ pháp lý

  • Bộ luật lao động số 10/2012/QH13 năm 2012 (Sau đây gọi là BLLĐ 2012);
  • Luật an toàn, vệ sinh lao động số 84/2015/QH13 năm 2015;
  • Nghị định 148/2018/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 05/2015/NĐ-CP hướng dẫn Bộ luật lao động;
  • Nghị định 05/2015/NĐ-CP hướng dẫn Bộ luật Lao động;
  • Nghị định 88/2015/NĐ-CP về sửa đổi một số điều của Nghị định 95/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
  • Nghị định 45/2013/NĐ-CP ngày 10/5/2013 quy định chi tiết một số điều của BLLĐ về thời gian làm việc, thời giờ ngỉ ngơi và an toàn lao động, vệ sinh lao động
 

Lạm dụng làm việc làm thêm giờ

Thời gian làm thêm là thời gian làm việc của người lao động ngoài thời gian làm việc bình thường được quy định trong pháp luật, thỏa ước lao động tập thể hoặc theo nội quy lao động.
Điều 106, 107 BLLĐ 2012 có quy định về thời giờ làm thêm như sau:
Người lao động sử dụng lao động được sử dụng người lao động làm thêm giờ khi có sự đồng ý của người lao động;
Người sử dụng lao động phải đảm bảo số giờ làm thêm của người lao động không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày, trường hợp áp dụng quy định làm việc theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 01 ngày; không quá 30 giờ trong một tháng và tổng số không quá 200 giờ trong 01 năm, trừ một số trường hợp đặc biệt nhưng không quá 300 giờ trong một năm như:
  • Sản xuất, gia công xuất khẩu sản phẩm là hàng dệt may, da, giày, chế biến nông, lâm, thủy sản;
  • Sản xuất, cung cấp điện, viễn thông, lọc dầu; cấp, thoát nước;
  • Các trường hợp khác phải giải quyết công việc cấp bách, không thể trì hoãn.
Tuy nhiên, trên thực tế người sử dụng lao động áp đặt việc làm thêm mà không cần có sự đồng ý của người lao động. Rất ít trường hợp người lao động lên tiếng khi hoặc từ chối được đề nghị làm thêm giờ của người sử dụng lao động khi không đồng ý làm thêm giờ. Hơn nữa, số thời gian làm thêm giờ nhiều trường hợp còn vượt quá số giờ theo quy định của pháp luật.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 97 BLLĐ 2012 thì khi làm thêm giờ người lao động sẽ được trả tiền làm thêm giờ như sau:
  • Vào ngày thường, ít nhất 150%;
  • Vào ngày nghỉ hàng tuần, ít nhất bằng 200%
  • Vào ngày nghỉ, lễ tết ngày nghỉ có hưởng lương, ít nhất bằng 300% chưa kể tiền lương ngày lễ, tết, ngày nghỉ có trả lương đối với người lao động hưởng lương ngày.
Nhưng trên thực tế, nhiều trường hợp người lao động làm thêm giờ không được tình vào thời gian làm thêm nên vì vậy không được trả thêm tiền làm thêm giờ.
Sau khi làm thêm giờ, pháp luật có quy định sẽ có thời gian nghỉ bù hoặc không nghỉ bù đủ số thời gian thì phải trả lương làm thêm giờ nhưng hầu hết người sử dụng lao động không áp dụng quy định này gây ra nhiều thiệt thòi cho người lao động.

Không đóng bảo hiểm hoặc chậm đóng bảo hiểm cho người lao động

Theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội, người sử dụng lao động, người lao động phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp và được hưởng các chế độ theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và pháp luật về bảo hiểm y tế. Như vậy, khi người lao động và người sử dụng lao động ký kết hợp đồng lao động thì người sử dụng lao động phải tham gia các loại bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
Đối với việc tham gia bảo hiểm, người lao động thường bị xâm phạm quyền lợi dưới các hình thức:
Thứ nhất, người sử dụng lao động thường lấy lý do tình hình kinh doanh không thuận lợi, thua lỗ nên việc đóng bảo hiểm cho người lao động trở nên khó khăn. Từ đó, người sử dụng lao động có tình kéo dài thời gian, chiếm dụng tiền bảo hiểm, chậm trễ thanh toán tiền bảo hiểm cho người lao động.
Thứ hai, người lao động không được đóng báo hiểm ngay khi ký kết hợp đồng lao động. Hiện nay, các doanh nghiệp thường đưa ra quy định sau một khoảng thời gian nhất định sau khi làm việc tại doanh nghiệp mới được đóng bảo hiểm với lý do để đảm bảo tránh tình trạng nhảy việc của người lao động. Ví dụ như quy định người lao động chỉ được đóng bảo hiểm sau 06 tháng làm việc. Việc này, ít nhiều ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động.
 

Chậm trả lương cho người lao động

Người sử dụng lao động có trách nhiệm trả lương trực tiếp, đầy đủ và đúng hạn cho người lao động.
Trường hợp đặc biệt không thể trả lương đúng thời hạn thì không được chậm quá 01 tháng và người sử dụng lao động phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng lãi suất huy động tiền gửi do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm trả lương.
Tuy nhiên, trên thực tế, trong trường hợp chậm trả lương cho người lao động, người sử dụng lao động cũng không phải trả thêm tiền chậm trả cho người lao động.
 

Giữ giấy tờ, bằng cấp của người lao động

Việc người sử dụng lao động giữ bản chính giấy tờ tùy thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động là một trong các hành vi bị cấm khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động. Hình vi này để giúp người sử dụng lao động “trói chân” người lao động hay gây khó dễ với người lao động khi người lao động nghỉ việc. Đây là hành vi vi phạm pháp luật lao động và người lao động hoàn toàn có quyền từ chối việc cung cấp bản chính các loại giấy tờ này.

Người lao động không được trang bị đầy đủ các thiết bị đảm bảo an toàn lao động

Theo Luật an toàn vệ sinh lao động 2015, Người lao động có nghĩa vụ tổ chức huấn luyện, hướng dẫn các quy định, nội quy, quy trình, biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; trang bị đầy đủ phương tiện, công cụ lao động bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; thực hiện việc chăm sóc sức khỏe, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp; thực hiện đầy đủ chế độ đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho người lao động.
Tình trạng mất an toàn lao động diễn ra khá phổ biến, thậm chí gây ra nhiều hậu quá nghiêm trọng. Các doanh nghiệp muốn tiết kiệm chi phí đối với các trang thiết bị bảo hộ lao động vì vậy đã không trang bị hoặc trang bị không đủ các thiết bị bảo hộ an toàn lao động cho người lao động. Làm việc trong môi trường nguy hiểm mà người lao động không được trang bị đầy đủ thì tiềm tàng rất nhiều rủi ro. Vì vậy, bản thân người lao động cần phải biết và đấu tranh để được cung cấp các thiết bị đảm bảo an toàn trong quá trình làm việc.
 
Thông tin liên hệ:
  • CÔNG TY LUẬT TNHH HDS
  • Địa chỉ: Phòng 401, tầng 4, số 169 Nguyễn Ngọc Vũ, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội
  • Số điện thoại: (+84) 24 3627 9555
  • Hotline: (+84) 91 464 63 57
Trân trọng!

Tin tức