Bản tin pháp luật số 12/2020

13/01/2021

Mục lục bài viết [ ẨnHiện ]

THƯƠNG MẠI

Bãi bỏ 2 thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan thuộc phạm vi, chức năng cùa Bộ tài chính

Ngày 09/12/2020, Bộ Tài chính ban hành Quyết định số 2081/QĐ-BTC về việc công bố thủ tục hành chính bị bãi bỏ lĩnh vực hải quan thuộc phạm vi, chức năng quản lý của Bộ Tài chính
Theo đó, 02 thủ tục hành chính bị bãi bỏ lĩnh vực hải quan thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tài chính, cụ thể như sau:
  • Thủ tục đăng ký danh mục hàng hóa xuất khẩu miễn thuế là vật liệu xây dựng đưa từ thị trường trong nước vào khu phi thuế quan;
  • Thủ tục quyết toán việc xuất khẩu, sử dụng hàng hóa miễn thuế và vật liệu xây dựng đưa từ thị trường trong nước và khu phi thuế quan để xây dựng sửa chữa và bảo dưỡng kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội chung trong khu phi thuế quan.
Quyết định số 2081/QĐ-BTC về việc công bố thủ tục hành chính bị bãi bỏ lĩnh vực hải quan thuộc phạm vi, chức năng quản lý của Bộ Tài chính chính thức có hiệu lực từ ngày 09/12/2020.

Ghi trị giá FOB trên chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hoá trong Hiệp định ATIGA

Ngày 15 tháng 12 năm 2020, Tổng cục Hải quan ban hành Công văn số 7886/TCHQ-GSQL về việc chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hoá trong Hiệp định ATIGA. Trong đó có hướng dẫn thực hiện việc thể hiện trị giá FOB tại C/O mẫu D, cụ thể như sau:
  • Đối với các C/O mẫu D được cấp từ ngày 20/9/2020 chỉ thể hiện trị giá FOB trong trường hợp hàng hoá xuất khẩu từ hoặc nhập khẩu vào Campuchia, Indonesia hoặc Lào và sử dụng tiêu chí xuất xứ giá trị hàm lượng khu vực (RVC) để xác định xuất xứ hàng hoá;
  • Đối với hàng hoá nhập khẩu từ các nước ASEAN khác (Brunei, Singapore, Thái Lan, Philippines, Malaysia, Myanmar, Việt Nam) không phải thể hiện trị giá FOB trên C/O. Trường hợp C/O thể hiện thêm thông tin về trị giá FOB thì việc khai báo thêm thông tin bổ sung này không ảnh hưởng đến tính hợp lệ của C/O.
Công văn số 7886/TCHQ-GSQL chính thức có hiệu lực vào ngày 15 tháng 12 năm 2020

Chữ ký trên khai báo tự chứng nhận xuất xứ của người xuất khẩu

Ngày 08 tháng 12 năm 2020, Tổng cục Hải quan ban hành Công văn số 7735/TCHQ-GSQL về việc chứng từ nhận xuất xứ hàng hoá trong Hiệp định EVFTA. Trong đó có hướng dẫn về chữ ký trên khai báo tự chứng nhận xuất xứ của người xuất khẩu, cụ thể:
  • Đối với Nhà xuất khẩu đủ điều kiện theo quy định Liên minh Châu Âu được phép không kí tên: Khai báo xuất xứ hàng hoá của nhà xuất khẩu đủ điều kiện được phép không ký tên với điều kiện nhà xuất khẩu cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền của nước xuất khẩu văn bản cam kết của nhà xuất khẩu và văn bản cam kết này được cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền của nước xuất khẩu. Công chức hải quan không được yêu cầu người khai hải quan phải nộp chứng từ này khi làm thủ tục hải quan;
  • Đối với hàng hoá xuất xứ EU nhập khẩu vào Việt Nam áp dụng hình thức chứng từ tự chứng nhận xuất xứ phát hành bới nhà xuất khẩu đăng ký mã số REX: cơ quan hải quan chấp nhậnn chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hoá mà không có chữ ký của người xuất khẩu có mã số REX cho các lô hàng có trị giá trên 6000 Euro. Đối với khai báo xuất xứ của doanh nghiệp chưa đăng ký mã số REX của các lô hàng có trị giá không vượt quá 6000 Euro thì cần phải có chữ ký tay của người xuất khẩu trên chứng từ chứng nhận xuất hàng hoá.     
Công văn số 7735/TCHQ-GSQL có hiệu lực ngày 08 tháng 12 năm 2020. 

THUẾ

Áp dụng thuế suất ưu đãi đặc biệt đối với hàng hoá có xuất xứ EU nhập khẩu từ kho ngoại quan vào nội địa theo Hiệp định EVFTA

Ngày 08 tháng 12 năm 2020, Tổng cục Hải quan ban hành Công văn số 7735/TCHQ-GSQL về việc chứng từ nhận xuất xứ hàng hoá trong Hiệp định EVFTA. Trong đó có hướng dẫn về việc áp dụng thuế suất ưu đãi đặc biệt đối với hàng hoá xó xuất xứ EU nhập khẩu từ kho ngoại quan vào nội địa, cụ thể như sau:
Điều 39 Thông tư số 11/2020/TT-BCT hướng dẫn quy tắc xuất xứ Hiệp định EVFTA quy định về hàng hoá trong quá trình vận chuyển hoặc lưu kho: "Ưu đãi thuế quan EVFTA được áp dụng đối với hàng hóa đáp ứng quy định tại Thông tư này và, vào ngày EVFTA có hiệu lực, hàng hóa ở tại một Nước thành viên hoặc trong quá trình vận chuyển, lưu kho tạm thời, trong kho ngoại quan hoặc trong khu phi thuế quan với điều kiện chứng từ chứng nhận xuất xứ phát hành sau được nộp cho cơ quan hải quan Nước thành viên nhập khẩu. Trong trường hợp được yêu cầu, nhà nhập khẩu nộp chứng từ chứng minh hàng hóa không thay đổi xuất xứ theo quy định tại Điều 17 Thông tư này cho cơ quan hải quan Nước thành viên nhập khẩu."
Như vậy, đối với hàng hoá có xuất xứ EU nhập khẩu từ kho ngoại quan vào nội địa kể từ ngày Hiệp định EVFTA có hiệu lực (ngày 01/08/2020) thì được áp dụng thuế suất ưu đãi đặc biệt nếu nộp được chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hoá đáp ứng quy định tại Thông tư số 11/2020/TT-BTC và Thông tư số 38/2018/TT-BTC.
Công văn số 7735/TCHQ-GSQL có hiệu lực ngày 08 tháng 12 năm 2020.
 

Bổ sung thêm trường hợp được xác định là có quan hệ liên kết trong quản lý thuế

Ngày 05/11/2020, Chính phủ ban hành Nghị định 132/2020/NĐ-CP quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết.
Các bên được xác định là có quan hệ liên kết khi có mối quan hệ thuộc một trong các trường hợp:
  • Một bên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc điều hành, kiểm soát, góp vốn hoặc đầu tư vào bên kia;
  • Các bên trực tiếp hay gián tiếp cùng chịu sự điều hành, kiểm soát, góp vốn hoặc đầu tư của một bên khác.
So với quy định cũ tại Nghị định 20/2017/NĐ-CP, nghị định 132/2020/NĐ-CP đã bổ sung thêm  hai đối tượng cụ thể được xác định là bên có quan hệ liên kết, cụ thể:
  • Hai doanh nghiệp được điều hành hoặc chịu sự kiểm soát về nhân sự, tài chính và hoạt động kinh doanh bởi các cá nhân thuộc một trong các mối quan hệ vợ, chồng; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng; con đẻ, con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồng, con dâu, con rể; anh, chị, em cùng cha mẹ, anh, chị em cùng cha khác mẹ, anh, chị, em cùng mẹ khác cha, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; ông bà nội, ông bà ngoại; cháu nội, cháu ngoại; cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột;
  • Doanh nghiệp có phát sinh các giao dịch nhượng, nhận chuyển nhượng vốn góp ít nhất 25% vốn góp của chủ sở hữu của doanh nghiệp trong kỳ tính thuế; vay, cho vay ít nhất 10% vốn góp của chủ sở hữu tại thời điểm phát sinh giao dịch trong kỳ tính thuế với cá nhân điều hành, kiểm soát doanh nghiệp hoặc với cá nhân thuộc trong một các mối quan hệ theo quy định tại điểm trên.
Nghị định 132/2020/NĐ-CP chính thức có hiệu lực từ ngày 20/12/2020.

Các trường hợp không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hoá đơn

Ngày 05 tháng 12 năm 2020, Nghị định số 125/2020/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hoá đơn do Chính phủ ban hành chính thức có hiệu lực. Trong đó có quy định các trường hợp sẽ không bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế và hoá đơn.
Cụ thể, các trường hợp sau đây sẽ không bị ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế và hoá đơn:
  • Các trường hợp không xử phạt vi phạm hành chính được quy định tại Điều 9 Nghị định 125/2020 bao gồm:
    • Người nộp thuế chậm thực hiện thủ tục thuế, hoá đơn bằng phương thức điện tử do sự cố kỹ thuật của hệ thống công nghệ thông tin được thông báo trên Cổng thông tin điện tử của cơ quan thuế thuộc trường hợp thực hiện hành vi vi phạm do sự kiện bất khả kháng;
    • Người nộp thuế vi phạm hành chính do thực hiện theo văn bản hướng dẫn, quyết định xử lý của cơ quan thuế, cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đến nội dung xác định nghĩa vụ thuế của người nộp thuế;
    • Người nộp thuế khai sai, người nộp thuế đã khai bổ sung hồ sơ khai thuế và tự giác nộp đủ số tiền thuế phải nộp trước thời điểm cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra thuế;
    • Cá nhân trực tiếp quyết toán thuế thu nhập cá nhân chậm nộp hồ sơ quyết toán thuế thu nhập cá nhân mà có phát sinh số tiền thuế được hoàn;
    • Vi phạm về thời hạn nộp hồ sơ khai thuế trong thời gian người nộp thuế được gia hạn nộp hồ sơ khai thuế đó.
  • Không xác định được đối tượng vi phạm hành chính về thuế, hoá đơn;
  • Đã hết thời hiệu xử phạt hoặc hết thời hạn ra quyết định xử phạt theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;
  • Cá nhân vi phạm đã chết, mất tích; tổ chức bị giải thế, phá sản;
  • Chuyển hồ sơ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự.
 

" Bản tin này cập nhật các vấn đề pháp lý Quý Khách hàng có thể đang quan tâm. Mặc dù chúng tôi luôn cố gắng cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ và cập nhật, tuy nhiên chúng tôi không thể đảm bảo tính chính xác, đầy đủ hoặc cập nhật của những thông tin này tại thời điểm Quý Khách hàng tiếp nhận. 
Do vậy, nội dung Bản tin không phải ý kiến tư vấn pháp lý chính thức của chúng tôi hoặc của bất cứ luật sư nào của chúng tôi. Nội dung Bản tin không xác lập quan hệ khách hàng – luật sư và không thiết lập nghĩa vụ pháp lý của chúng tôi với Quý Khách hàng. 
Chúng tôi không chịu trách nhiệm liên đới hoặc độc lập về việc Quý Khách hàng hành động hoặc không hành động trên cơ sở bất kỳ hoặc toàn bộ nội dung Bản tin cũng như về các tổn thất có thể phát sinh khi độc giả tự ý sử dụng nội dung Bản tin mà không có ý kiến tư vấn pháp lý chính thức từ chúng tôi. 
Vui lòng liên hệ với luật sư của chúng tôi khi Quý Khách hàng có bất kỳ vấn đề pháp lý nào phát sinh từ hoạt động kinh doanh và cần sự hỗ trợ của luật sư" 

*Bạn đọc có thể tại bản PDF của Bản tin pháp luật số 12/2020 tại Đây

 
 

Bản Tin HDS