Bản tin pháp luật số 01/2021

22/02/2021

Mục lục bài viết [ ẨnHiện ]

DOANH NGHIỆP

Sửa đổi quy định chào bán trái phiếu doanh nghiệp

Ngày 31 tháng 12 năm 2020, Chính phủ ban hành Nghị định 153/2020/NĐ-CP quy định về chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại thị trường trong nước và chào bán trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế.
So với Nghị định 81/2020/NĐ-CP, Nghị định 153/2020/NĐ-CP đã bãi bỏ một số quy định về điều kiện chào bán trái phiếu không chuyển đổi hoặc trái phiếu không kèm theo chứng quyền như: điều kiện về thời gian hoạt động tối thiểu, có hợp đồng tư vấn với tổ chức tư vấn về hồ sơ phát hành trái phiếu, tuân thủ giới hạn về số lượng nhà đầu tư khi phát hành, đảm bảo dư nợ theo quy định, thời hạn 90 ngày để hoàn thành mỗi đợt phát hành.
Cụ thể, Nghị định 153 quy định doanh nghiệp phải đáp ứng các điều kiện sau khi chào bán trái phiếu không chuyển đổi không kèm chứng quyền:

 
  • Là công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam.
  • Thanh toán đủ cả gốc và lãi của trái phiếu đã phát hành hoặc thanh toán đủ các khoản nợ đến hạn trong 03 năm liên tiếp trước đợt phát hành trái phiếu (nếu có); trừ trường hợp chào bán trái phiếu cho chủ nợ là tổ chức tài chính được lựa chọn.
  • Đáp ứng các tỷ lệ an toàn tài chính, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động theo quy định của pháp luật chuyên ngành.
  • Có phương án phát hành trái phiếu được phê duyệt và chấp thuận
  • Có báo cáo tài chính năm trước liền kề của năm phát hành được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán đủ điều kiện.
  • Đối với trái phiếu không chuyển đổi không kèm chứng quyền: đối tượng mua trái phiếu là nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp theo quy định của pháp luật chứng khoán
Nghị định 153/2020/NĐ-CP chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2021.

Quy định cụ thể về các trường hợp được mua trái phiếu doanh nghiệp

Nghị định 153/2020/NĐ-CP được đề cập bên trên cũng đưa ra những quy định rõ ràng về Nhà đầu tư mua trái phiếu.
Cụ thể như sau:
  • Các đối tượng mua trái phiếu được quy định cho từng trường hợp như sau:
    • Đối tượng mua trái phiếu không chuyển đổi không kèm chứng quyền là nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp theo quy định của pháp luật chứng khoán
    • Đối tượng mua trái phiếu chuyển đổi và trái phiếu kèm chứng quyền là nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp, nhà đầu tư chiến lược, trong đó số lượng nhà đầu tư chiến lược phải đảm bảo dưới 100 nhà đầu tư.
Tổ chức có trách nhiệm xác định nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và tài liệu xác định nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp thực hiện theo quy định pháp luật.
 
  • Trách nhiệm của nhà đầu tư mua trái phiếu:
    • Tiếp cận đầy đủ nội dung công bố thông tin của doanh nghiệp phát hành; hiểu rõ điều kiện, điều khoản trái phiếu và các cam kết khác của doanh nghiệp phát hành trước khi quyết định mua và giao dịch trái phiếu.
    • Tự đánh giá, tự chịu trách nhiệm về quyết định đầu tư của mình và tự chịu các rủi ro phát sinh trong việc đầu tư và giao dịch trái phiếu. Nhà nước không đảm bảo việc doanh nghiệp phát hành trái phiếu thanh toán đầy đủ, đúng hạn lãi, gốc trái phiếu khi đến hạn và các quyền khác cho nhà đầu tư mua trái phiếu.
    • Hiểu rõ và tuân thủ quy định về đối tượng nhà đầu tư, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ theo quy định tại Nghị quy định của pháp luật liên quan.
  • Quyền lợi của nhà đầu tư mua trái phiếu:
    • Được doanh nghiệp phát hành công bố thông tin đầy đủ theo quy định tại Nghị định này; được quyền tiếp cận hồ sơ chào bán trái phiếu khi có yêu cầu.
    • Được doanh nghiệp phát hành thanh toán đầy đủ, đúng hạn lãi, gốc trái phiếu khi đến hạn, thực hiện các quyền kèm theo (nếu có) theo điều kiện, điều khoản của trái phiếu và các thỏa thuận với doanh nghiệp phát hành.
    • Được dùng trái phiếu để chuyển nhượng, cho, tặng, thừa kế, chiết khấu; được sử dụng trái phiếu làm tài sản bảo đảm trong các quan hệ dân sự và quan hệ thương mại theo quy định của pháp luật.
Nghị định 153/2020/NĐ-CP chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2021.

THUẾ

Sửa quy định về hạng đất tính thuế sử dụng đất nông nghiệp
Ngày 8/12/2020, Chính phủ ban hành Nghị định 146/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung điều 5 Nghị định số 20/2011/NĐ-CP ngày 23/03/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 55/2010/QH12 ngày 24 tháng 11 năm 2010 của Quốc hội về miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp.
Nghị định này quy định về hạng đất tính thuế như sau: Kéo dài thời hạn thực hiện hạng đất tính thuế sử dụng đất nông nghiệp đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2025 trên cở sở hạng đất đã được quy định và thực hiện trong giai đoạn từ năm 2011 đến hết năm 2020. Đối với trường hợp địa phương được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh hạng đất tính thuế sử dụng đất nông nghiệp theo quy định thì thực hiện theo quy định đó đến hết ngày 31/12/2025.
Nghị định 146/2020/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2021

LAO ĐỘNG 

Điểm mới của Bộ luật Lao động
Ngày 01/01/2021, Bộ Luật Lao động số 45/2019/QH14 được Quốc hội thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2019 chính thức có hiệu lực. Theo đó, Bộ Luật Lao động 2019 có một số điểm mới đáng chú ý như sau:

 
  • Bổ sung thêm những quy định mới về hợp đồng lao động, cụ thể:
    • Tăng tính nhận diện các quan hệ lao động diễn ra trên thực tế khi bổ sung quy định “Mọi hợp đồng bất kể tên gọi là gì, đều được coi là Hợp đồng lao động nếu có đủ 3 dấu diệu: Làm việc trên cơ sở thoả thuận; có trả lương; có sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên”.
    • Chấp nhận hợp đồng lao động được thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu.
    • Chỉ còn 02 loại hợp đồng lao động được phép giao kết bao gồm: Hợp đồng lao động không xác định thời hạn và Hợp đồng lao động xác định thời hạn (Không còn loại Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định)
    • Không áp dụng thử việc đối với hợp đồng lao động dưới 01 tháng
    • Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động không cần lý do
    • Đối với quy định về thử việc, không áp dụng thử việc đối với Hợp đồng lao động dưới 01 tháng và bổ sung thời gian thử việc không quá 180 ngày đối với công việc của người quản lý doanh nghiệp
    • Bổ sung trường hợp tạm hoãn hợp đồng lao động sau đây: Người lao động (NLĐ) thực hiện nghĩa vụ tham gia Dân quân tự vệ và  NLĐ được uỷ quyền để thực hiện quyền, trách nhiệm của doanh nghiệp đối với phần vốn của doanh nghiệp đầu tư tại doanh nghiệp khác
    • Quy định hợp lý về thời gian giải quyết và trách nhiệm của 2 bên khi chấm dứt hợp đồng lao động.
  • Thay đổi quy định về lương, thưởng
    • Người sử dụng lao động (NSDLĐ) không được hạn chế hoặc can thiệp vào quyền tự quyết chi tiêu lương của NLĐ cũng như ép buộc NLĐ chi tiêu lương vào việc mua hàng hoá, sử dụng dịch vụ của NSDLĐ hoặc của đơn vị khác mà NSDLĐ chỉ định.
    • NSDLĐ phải thông báo bảng kê trả lương cho người lao động vào mỗi lần trả lương.
    • NSDLĐ phải trả thêm lãi suất do trả lương chậm cho NLĐ. Theo đó, nếu trả lương chậm từ 15 ngày trở lên thì NSDLĐ phải đền bù cho NLĐ một khoản tiền ít nhất bằng số tiền lãi của số tiền trả chậm tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng do ngân hàng nơi NSDLĐ mở tài khoản trả lương cho NLĐ công bố tại thời điểm trả lương.
    • NSDLĐ phải trả các loại phí liên quan đến mở tài khoản và chuyển tiền lương qua tài khoản cá nhân của NLĐ.
    • Bổ sung thêm trường hợp NLĐ được nghỉ việc riêng và hưởng nguyên lương đó là cha đẻ, mẹ đẻm cha nuôi, mẹ nuôi; cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi của vợ hoặc chồng; vợ hoặc chồng; con đẻ, con nuôi chết (được nghỉ 03 ngày).
    • NLĐ có thể quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần báo trước nếu không được trả đủ lương hoặc không đúng hạn được quy định lại Điểm b Khoản 2 Điều 35 BLLĐ 2019.
  • Thay đổi, bổ sung một số quy định liên quan đến thời giờ làm việc, nghỉ ngơi
    • BLLĐ 2019 đã tăng thời gian làm thêm giờ của NLĐ lên không quá 40 giờ/tháng theo quy định tại Khoản 2 Điều 105 BLLĐ 2019 (trước đây BLLĐ 2012 quy định thời gian làm thêm giờ không quá 30 giờ trong 01 tháng).
    • Cùng với đó, BLLĐ 2019 cũng bổ sung thêm một số trường hợp NSDLĐ được sử dụng NLĐ làm thêm không uqas 300 giờ trong 01 năm như: (i) Trường hợp giải quyết công việc đòi hỏi lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao mà thị trường lao động không cung ứng đầy đủ, kịp thời; (ii) Sản xuất, gia công xuất khẩu sản phẩm hàng điện, điện tử, chế biến diêm nghiệp.
BLLĐ 2019 cũng bổ sung quy định về trường hợp NSDLĐ có quyền yêu cầu NLĐ làm thêm giờ vào bất kỳ ngày nào mà không bị giới hạn về số giờ làm thêm theo quy định tại Điều 107 BLLĐ 2019 và NLĐ không được từ chối: (i) Thực hiện lệnh động viên, huy động bảo đảm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp luật; (ii) Thực hiện các công việc nhằm bảo vệ tính mạng con người, tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng ngừa, khắc phục hậu quả thiên tai, hoar hoạn, dịch bệnh nguy hiểm và thảm hoạ, trừ trường hợp có nguy cơ ảnh hưởng đến tính mạng, sức khoẻ của người lao động theo quy định của phảp luật về an toàn, vệ sinh lao động.
 

" Bản tin này cập nhật các vấn đề pháp lý Quý Khách hàng có thể đang quan tâm. Mặc dù chúng tôi luôn cố gắng cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ và cập nhật, tuy nhiên chúng tôi không thể đảm bảo tính chính xác, đầy đủ hoặc cập nhật của những thông tin này tại thời điểm Quý Khách hàng tiếp nhận. 
Do vậy, nội dung Bản tin không phải ý kiến tư vấn pháp lý chính thức của chúng tôi hoặc của bất cứ luật sư nào của chúng tôi. Nội dung Bản tin không xác lập quan hệ khách hàng – luật sư và không thiết lập nghĩa vụ pháp lý của chúng tôi với Quý Khách hàng. 
Chúng tôi không chịu trách nhiệm liên đới hoặc độc lập về việc Quý Khách hàng hành động hoặc không hành động trên cơ sở bất kỳ hoặc toàn bộ nội dung Bản tin cũng như về các tổn thất có thể phát sinh khi độc giả tự ý sử dụng nội dung Bản tin mà không có ý kiến tư vấn pháp lý chính thức từ chúng tôi. 
Vui lòng liên hệ với luật sư của chúng tôi khi Quý Khách hàng có bất kỳ vấn đề pháp lý nào phát sinh từ hoạt động kinh doanh và cần sự hỗ trợ của luật sư" 

*Bạn đọc có thể tại bản PDF của Bản tin pháp luật số 01/2021 tại Đây

Bản Tin HDS